Thăng ma chữa đau lưng do thoát vị đĩa đệm cột sống

cây thăng ma chữa thoát vị đĩa đệm cột sống

Thoát vị đĩa đệm cột sống hay xảy ra ở vùng cổ và vùng thắt lưng

Bệnh thoát vị có thể xảy ra ngay ở người trẻ tuổi do hoạt động thể thao quá sức hoặc do khênh vác nặng sai tư thế hoặc với người già do bệnh thoái hóa tích tụ từ lâu, bao xơ đĩa đệm bị xơ hóa, già hóa dần dần rách vỡ bao xơ

Hình ảnh thoát vị đĩa đệm cột sống
Vị thuốc thăng ma ứng dụng trong trị bệnh cột sống thoát vị đĩa đệm

Tác dụng trong y học cổ truyền

Theo Thang Dịch Bản Thảo ghi chép lại, thăng ma có tính hơi hàn và vị đắng. Tuy nhiên, Dược Tính Luận lại cho rằng dược liệu này lại có khí thăng, vị ngọt, cay và đắng.

Thảo dược được quy vào kinh Túc Thái Âm Tỳ, Dương Minh Vị, Thủ Thái Âm Phế, Dương Minh Đại. Với tính vị như trên, vị thuốc thăng ma có tác dụng ứ huyết, hành dương, vận kinh, cử hãm, thấu chẩn, thăng dương, tuyên độc, năng giải tỳ vị,…

Từ đó chủ trị chứng ngoại cảm phong nhiệt, sỏi, khí hư nhược, khí hư hạ hãm…

Vị thuốc thăng ma dùng trong chữa bệnh đau lưng thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Tác dụng trong y học hiện đại

Các nghiên cứu đã chỉ ra hàm lượng lớn Isoferulic và Caffeic acid có trong cây thăng ma, hàm lượng này có khả năng chống viêm và chống oxy hóa rất tốt. Ngoài ra, một số thành phần hóa học khác cũng được tìm kiếm trong thảo dược như: Cimici Len, Dahurinol, Cimicifuga, Norvi Snagin, Visammoil, Visnagin và Cimicifugoside….

Với những thành phần đó, thăng ma có công dụng thần kỳ như sau:

  • Có hiệu quả trong việc hạ nhiệt, chống viêm, giảm đau, tiêu độc và ngăn ngừa cơn co giật.
  • Công dụng làm ức chế tim, giúp tim đập chậm lại, huyết áp giảm. Đồng thời có khả năng ức chế ruột, tử cung.
  • Sử dụng dược liệu có tác dụng tăng cao lượng bạch cầu, phóng thích tiêu cầu để chống viêm và chống kinh quyết.

Theo Đông y, thăng ma vị ngọt, cay, hơi đắng, tính hơi hàn; vào các kinh: phế, tỳ, vị và đại trường. Có tác dụng giải độc thấu chẩn, thanh nhiệt giải độc, thăng dương cử hãm.

Chữa các chứng ngoại cảm phong nhiệt sinh đau đầu, sởi mọc chậm hoặc không đều; chứng khí hư nhược hoặc khí hư hạ hãm.

Bài 1: Bột thanh vị: thăng ma 4g, mẫu đơn bì 2g, sinh địa 1,5g; quy thân 1,5g; hoàng liên 1,5g. Các vị nghiền thành bột. Hãm hay sắc uống. Trị dạ dày nóng, miệng phát nhọt, lợi lở loét, chảy máu.

Bài 2: Thang thăng ma cát căn: thăng ma 4g, xích thược 6g, cát căn 12g, cam thảo 2g. Sắc uống. Trị sởi mới chớm nhưng do bế tắc phong hàn làm sởi mọc không đều; hoặc vì đi tả mà sởi lặn mất không mọc lên được.

Bài 3: thăng ma 8g, thạch cao 16g, ngưu bàng 12g, cát căn 12g, liên kiều 8g, thiên hoa phấn 8g, hoàng cầm 8g, cát cánh 8g, sài hồ 6g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Trị quai bị.

Bài 4: thăng ma 6g. Hãm hoặc sắc đặc, ngậm trong miệng khi còn nóng. Trị viêm họng cấp và đau răng.

Bài 5: thăng ma 5g, hoàng liên 3g. Các vị nghiền thành bột thô, hãm hay sắc đặc, ngậm trong miệng và nuốt nước dần. Trị nhiệt miệng sinh nhọt lở.

Bài 6: thăng ma 5g, hoàng bá 5g, đại thanh 5g. Hãm hay sắc đặc, ngậm trong miệng và nuốt nước dần. Trị nhiệt miệng, cổ họng lở loét.

Thăng dương, thông tắc. Trị các trường hợp dương khí hãm xuống, thiếu khí nên ngại nói hoặc sa tử cung, sa trực tràng.

Bài 1: Thang thăng hãm: hoàng kỳ 20g, thăng ma 4g, tri mẫu 8g, cát cánh 8g. Sắc uống. Trị chứng hơi trong ngực hãm xuống, hơi thở ngắn, đau tức vùng lưng trên

Bài 2: thăng ma 12g, ích mẫu thảo 80g, quả mộc thông 2 lá (hoặc thân rễ) 200g, gà mái tơ 1 con. Gà làm sạch, cho thuốc vào bụng gà, hầm cách thủy; chia ăn nhiều lần. Cách tuần ăn 1 con. Trị sa tử cung.

Bài 3: thăng ma 6g, mẫu lệ 12g. Sấy khô tán bột, chia uống 2 – 3 lần trong ngày. Trị sa tử cung; sa độ I nên uống liên tục 1 tháng; độ II uống 2 tháng và độ III uống 3 tháng.

Bài 4: Thăng hãm thang: thăng ma 5g, hoàng kỳ 20g, tri mẫu 8g, cát cánh 8g. Sắc uống. Trị hơi thở ngắn, khí ở ngực bị dồn xuống. thoát vị đĩa đệm vùng cổ

Bài 5: Bổ trung ích khí thang: hoàng kỳ 20g, đảng sâm 12g, bạch truật 12g, đương quy 12g, trần bì 6g, cam thảo (chích) 4g, thăng ma 4 – 6g, sài hồ 6 – 10g. Sắc uống. Trị nguyên khí hạ hãm, trung khí hư nhược gây ra sa phủ tạng (sa dạ dày, sa trực tràng, sa tử cung…) hoặc tiêu chảy kéo dài do hư nhược.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*